Vùng Hàm Thuận ngày nay từng là một phần đất Panduranga, tiểu quốc phía nam của Chăm Pa, trước khi dần thuộc về Đàng Trong của các chúa Nguyễn từ cuối thế kỷ 17. Người Việt đến lập làng ven sông Cà Ty và ven biển, rồi lan dần lên vùng đồi. Thế kỷ 20 mang tới đường sắt, hải đăng, chiến tranh, những đợt di dân lớn, và cuối cùng là cây thanh long làm đổi diện mạo cả vùng.
Bài này đi theo các lớp người và các lớp công trình đã để lại dấu trên đất Hàm Thuận. Những gì có tư liệu chắc được nêu rõ; những gì chỉ là truyền khẩu được ghi là truyền khẩu.
Lớp đầu tiên: đất Panduranga
Trước khi người Việt đến, dải đất ven biển từ Phan Rang tới Phan Thiết là vùng Panduranga, một trong những tiểu quốc của Chăm Pa. Người Chăm làm ruộng ở các thung lũng ven sông, làm muối, đánh cá và buôn bán qua các cửa biển. Ở vùng đồi núi phía trong là các tộc người nói ngôn ngữ thuộc nhóm Nam Đảo và Môn – Khmer, như người Raglai, người K'Ho, sống bằng rẫy và rừng, có quan hệ trao đổi với người Chăm ở đồng bằng.
Trên đất Hàm Thuận cũ, dấu vết Chăm không đậm như ở vùng Phan Rí, Phan Rang hay chính Phan Thiết, nơi còn tháp Pô Sah Inư. Tuy vậy, một số địa danh và tập tục vùng ven biển được cho là có liên hệ với lớp cư dân cũ. Những liên hệ đó phần lớn là giả thuyết của các nhà nghiên cứu địa danh, cần thận trọng khi nhắc tới.
Từ cuối thế kỷ 17, các chúa Nguyễn lập đơn vị hành chính trên vùng đất này, mở đầu thời kỳ người Việt đến định cư đông hơn. Vùng Thuận Thành của người Chăm vẫn giữ một mức tự trị cho tới thời vua Minh Mạng, khi được nhập hẳn vào hệ thống hành chính chung vào thập niên 1830.
Làng Việt ven sông, ven biển
Những người Việt đến đầu tiên phần lớn đi từ các vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định vào. Họ chọn những nơi có nước ngọt và có lối ra biển: ven sông Cà Ty ngược lên phía trên Phan Thiết, các bàu nước ngọt gần bờ biển, các vũng ven mũi đá. Làng chài hình thành ở những chỗ thuyền neo được, làng nông ở những chỗ khai được ruộng.
Dấu tích của lớp làng này là các đình làng, lăng thờ cá Ông ở làng biển, những ngôi chùa làng, các bia và sắc phong còn giữ ở một số nơi. Tập quán thờ cá Ông, lễ cầu ngư của ngư dân ven biển Thuận Quý, Tân Thành, Tân Thuận cũ nằm chung trong dòng văn hoá biển của cả dải Nam Trung Bộ. Mục con người và lễ hội của trang có bài viết riêng về các lễ hội ấy.
Cũng trong thế kỷ 19, núi Tà Cú gắn với sự hình thành ngôi chùa trên núi, do một vị sư tu hành đến khai sơn, về sau được triều Nguyễn ban biển hiệu. Ngôi chùa và tượng Phật nằm xây dựng ở thế kỷ 20 về sau trở thành điểm hành hương và tham quan nổi tiếng của vùng. Câu chuyện chi tiết về vị sư khai sơn được lưu truyền ở chùa và trong các tài liệu địa phương.
Thời Pháp: đường sắt, hải đăng và đồn điền
Khi người Pháp đặt ách cai trị, vùng Hàm Thuận nằm trên đường nối Sài Gòn với Trung Kỳ, nên trở thành nơi đi qua của nhiều công trình hạ tầng. Ở mũi Kê Gà, người Pháp xây ngọn hải đăng bằng đá vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, dẫn đường cho tàu bè đi dọc bờ biển phía nam. Ngọn hải đăng ấy vẫn đứng đến hôm nay và thường được nhắc là một trong những hải đăng cổ nhất Việt Nam.
Tuyến đường sắt từ Sài Gòn ra phía Bắc được xây dựng từng đoạn trong những thập niên đầu thế kỷ 20 và hoàn thành toàn tuyến vào năm 1936. Đoạn qua vùng này có ga Mương Mán, từ đó có nhánh rẽ vào Phan Thiết. Nhà ga biến một vùng đồi cát thưa người thành điểm tụ cư, buôn bán, và tên Mương Mán trở nên quen thuộc với khách đi tàu.
Thời kỳ này cũng có những đồn điền và các vùng khai thác lâm sản ở vùng đồi phía trong, cùng với hệ thống đường bộ được nâng cấp. Đời sống của phần lớn cư dân bản địa vẫn là ruộng lúa, rẫy, đánh cá, làm nước mắm theo nghề truyền thống.
Hai cuộc chiến tranh và vùng căn cứ
Như nhiều vùng trung du Nam Trung Bộ, vùng rừng núi phía bắc và phía tây của Hàm Thuận là nơi đứng chân của lực lượng kháng chiến qua hai cuộc chiến tranh. Rừng núi La Dạ, Đông Giang, vùng đồi Hồng Sơn, vùng núi phía tây Hàm Thuận Nam có địa hình kín, gần đường giao thông lớn, nên trở thành nơi xây dựng căn cứ, nơi diễn ra nhiều trận đánh. Nhiều làng đồng bằng phải dời đi, ruộng đất bỏ hoang trong thời chiến.
Dấu tích của giai đoạn này là các di tích lịch sử được ghi nhận ở cấp tỉnh, các nghĩa trang liệt sĩ, bia tưởng niệm ở các xã. Tên và vị trí cụ thể của từng di tích được ghi trong danh mục di tích của địa phương; trang chỉ nêu những thông tin đã đối chiếu được và khuyến khích người đọc tra danh mục chính thức khi cần.
Với người đi tìm hiểu, nên nhớ rằng nhiều địa điểm trong vùng núi nay là rừng phòng hộ, vùng lòng hồ thủy điện hoặc đất sản xuất của người dân. Muốn đến thăm các di tích ở vùng xa, tốt nhất là hỏi chính quyền xã hoặc người địa phương dẫn đường.
Lịch sử thời chiến của vùng Hàm Thuận cũng được kể lại trong các cuốn lịch sử địa phương và trong trí nhớ của những gia đình từng sống qua giai đoạn ấy. Với người trẻ và người mới đến, những câu chuyện về làng phải dời đi rồi trở về, về ruộng đồng được khai phá lại sau chiến tranh, giúp hiểu vì sao nhiều làng ở đây có lịch sử đứt quãng và vì sao dân cư nhiều nơi là sự pha trộn giữa người gốc và người đến sau.
Sau năm 1975: vùng kinh tế mới, thủy lợi và cây thanh long
Sau năm 1975, vùng Hàm Thuận đón nhiều đợt di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung và cả từ các đô thị phía Nam. Những xã như Đông Tiến, Mỹ Thạnh, Hàm Cần, Tân Lập và nhiều thôn ở vùng đồi được lập hoặc mở rộng trong giai đoạn này. Người đến sau mang theo giọng nói, món ăn, tập quán quê gốc, làm cho vùng Hàm Thuận trở thành nơi pha trộn nhiều miền.
Bài toán lớn nhất của vùng là nước. Đất Hàm Thuận nắng nhiều, mùa khô dài, nhiều nơi đất cát bạc màu. Các công trình thủy lợi như hồ sông Quao và hệ thống kênh mương, sau này là việc khai thác nước từ các hồ thủy điện trên thượng nguồn, mở ra khả năng trồng trọt quanh năm ở vùng trung du.
Cây thanh long có mặt ở Bình Thuận từ lâu, ban đầu trồng lẻ tẻ trong vườn nhà. Từ thập niên 1990, khi thị trường mở ra và người trồng tìm ra cách thắp đèn cho cây ra trái nghịch vụ, thanh long lan nhanh trên đất Hàm Thuận Nam rồi sang Hàm Thuận Bắc, thay cho lúa và hoa màu ở nhiều nơi. Những cánh đồng trụ bê tông, những đêm đèn sáng rực trở thành hình ảnh gắn liền với vùng đất. Sang thế kỷ 21, vùng Hàm Thuận có thêm thủy điện, điện mặt trời, khu công nghiệp, các khu nghỉ ven biển và tuyến cao tốc, mở ra một chương mới mà mục kinh tế của trang sẽ kể chi tiết.
Dấu vết của các đợt người đến trong đời sống hôm nay
Đi một vòng vùng Hàm Thuận sẽ nghe nhiều giọng nói khác nhau. Ở các làng ven biển và làng cũ ven sông, giọng nói mang âm hưởng Nam Trung Bộ, gần với giọng Phan Thiết. Ở những thôn lập sau năm 1975, có thể nghe giọng Bắc, giọng Nghệ Tĩnh, giọng Quảng, đôi khi trong cùng một xóm. Ở vùng núi, đồng bào dân tộc thiểu số giữ tiếng nói của mình bên cạnh tiếng Việt.
Sự pha trộn ấy hiện ra trong bữa ăn: bánh căn, bánh xèo, các món cá kho, nước mắm của dải biển Nam Trung Bộ đứng cạnh những món mang từ quê gốc của người đến sau. Nó hiện ra trong kiến trúc: nhà ngói kiểu cũ ở làng xưa, nhà cấp bốn mái tôn ở vùng kinh tế mới, nhà sàn hoặc nhà theo kiểu riêng ở một số thôn đồng bào. Nó hiện ra cả trong cách gọi tên thôn: có thôn mang số thứ tự, có thôn mang tên quê gốc của những người đến lập, có thôn giữ tên làng xưa.
Với người mới đến sống hay làm việc ở Hàm Thuận, hiểu lớp lịch sử này giúp ứng xử dễ hơn. Mỗi thôn có nếp riêng, có đình riêng hoặc nhà văn hoá riêng, có ngày giỗ, ngày lễ riêng. Hỏi người cao tuổi trong thôn về chuyện lập làng thường là cách mở lời tốt nhất.
Những công trình đánh dấu từng giai đoạn
Nhìn lại, mỗi giai đoạn khai phá vùng Hàm Thuận để lại một hoặc vài công trình làm mốc. Danh sách dưới đây xếp theo thứ tự thời gian, chỉ gồm những công trình có thật và còn nhìn thấy được.
- Đình làng, lăng Ông ven biển: dấu tích các làng Việt đầu tiên, nhiều nơi đã được trùng tu nhiều lần.
- Chùa trên núi Tà Cú: khai sơn từ thế kỷ 19, tượng Phật nằm xây ở thế kỷ 20.
- Hải đăng Kê Gà: xây thời Pháp, vẫn hoạt động.
- Ga Mương Mán và tuyến đường sắt: xây thời Pháp, vẫn là cửa ngõ đường sắt của cả vùng.
- Các hồ thủy lợi như hồ sông Quao và hệ thống kênh mương: nền móng cho nông nghiệp sau năm 1975.
- Thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi trên sông La Ngà: hoàn thành khoảng đầu thập niên 2000, tạo nên vùng hồ lớn ở phía tây bắc.
- Cao tốc Bắc – Nam đoạn qua vùng Hàm Thuận: đưa vào khai thác năm 2023, rút ngắn đường về TP.HCM.
Mỗi công trình kéo theo một lớp dân cư và một kiểu sinh kế mới quanh nó: làng chài quanh lăng Ông, xóm buôn bán quanh nhà ga, thôn nông nghiệp dọc kênh, khu tái định cư quanh hồ thủy điện, và nay là những dãy cửa hàng, kho bãi gần các nút giao cao tốc. Đọc lịch sử vùng Hàm Thuận theo các công trình là cách dễ hình dung nhất cho người mới tìm hiểu.
Câu hỏi thường gặp
Người Chăm có còn sống ở vùng Hàm Thuận không?
Cộng đồng người Chăm ở Bình Thuận cũ tập trung đông ở vùng Bắc Bình, Tuy Phong và một số nơi khác. Trên đất Hàm Thuận cũ, dấu vết Chăm mờ hơn. Muốn biết chính xác cộng đồng nào đang sống ở xã nào, nên tham khảo số liệu của cơ quan dân tộc địa phương thay vì suy đoán.
Tuyến đường sắt qua Mương Mán có từ bao giờ?
Tuyến đường sắt xuyên Việt được xây dựng từng đoạn thời Pháp và hoàn thành toàn tuyến năm 1936; đoạn qua vùng Mương Mán có từ trước đó. Ga Mương Mán gắn với nhánh đường sắt rẽ vào Phan Thiết. Năm cụ thể khánh thành ga nên tra tư liệu của ngành đường sắt.
Vì sao vùng Hàm Thuận có nhiều người quê miền Bắc?
Sau năm 1975, vùng đất còn rộng, dân thưa nên được chọn làm nơi xây dựng vùng kinh tế mới, đón các đợt di dân từ nhiều tỉnh phía Bắc và miền Trung. Nhiều thôn, xã được lập trong giai đoạn này. Con cháu những người đến thời ấy nay đã là người Hàm Thuận thứ hai, thứ ba.
Thanh long bắt đầu trồng nhiều ở Hàm Thuận từ khi nào?
Thanh long có mặt ở Bình Thuận từ lâu nhưng chỉ trồng nhỏ lẻ. Từ thập niên 1990, nhờ thị trường mở rộng và kỹ thuật thắp đèn cho cây ra trái nghịch vụ, diện tích tăng nhanh ở Hàm Thuận Nam rồi Hàm Thuận Bắc. Mục thanh long và nông sản của trang viết kỹ hơn về cây trồng này.
Hải đăng Kê Gà xây dựng thời nào?
Hải đăng Kê Gà do người Pháp xây dựng vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, bằng đá, trên mũi Kê Gà thuộc xã Tân Thành cũ, nay là xã Tân Thành của tỉnh Lâm Đồng. Ngọn đèn vẫn hoạt động dẫn đường cho tàu thuyền và là điểm tham quan quen thuộc.
Ở Hàm Thuận có di tích lịch sử nào được xếp hạng?
Vùng Hàm Thuận có núi Tà Cú với quần thể chùa trên núi là di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cùng nhiều di tích lịch sử, văn hoá cấp tỉnh. Danh mục đầy đủ và cấp xếp hạng nên tra trên cổng thông tin của ngành văn hoá tỉnh Lâm Đồng hoặc hỏi chính quyền xã.