HamThuan.comHàm Thuận
Lịch sử và tên gọi

Vùng cao La Dạ, Đa Mi, Đông Giang: lịch sử và tên gọi sau sáp nhập

Bốn xã núi La Dạ, Đa Mi, Đông Giang, Đông Tiến nay là hai xã La Dạ và Đông Giang. Lịch sử đồng bào, đường núi, hồ thủy điện và những tên đất còn lại.

Misty morning over a large mountain reservoir with forested hills and a winding road along the shore in the highlands north of Phan Thiet, Vietnam, cool blue tones

Bốn xã vùng núi của Hàm Thuận Bắc cũ là La Dạ, Đa Mi, Đông Giang và Đông Tiến. Từ 1/7/2025, La Dạ và Đa Mi hợp thành xã La Dạ, Đông Giang và Đông Tiến hợp thành xã Đông Giang, cùng thuộc tỉnh Lâm Đồng. Đây là vùng của đồng bào dân tộc thiểu số sống lâu đời, của những đợt người Kinh lên lập nghiệp, và của hồ thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi trên sông La Ngà.

Với tỉnh Lâm Đồng mới, vùng cao Hàm Thuận Bắc không còn là "vùng giáp ranh" như trước mà là phần nối giữa cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc và vùng biển. Bài này kể lại lịch sử và tên gọi của vùng, những gì đã thay đổi qua thời gian, và những tên đất còn giữ lại dấu vết lớp cư dân bản địa.

Vùng núi phía bắc trong lịch sử Hàm Thuận

Từ Ma Lâm đi lên phía bắc, địa hình cao dần, đồng ruộng thưa dần, rừng và đồi dày lên. Đây là phần đất nối dải trung du Bình Thuận với cao nguyên phía nam Tây Nguyên. Từ xa xưa, vùng này là nơi sinh sống của các cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số theo kiểu làm rẫy, săn bắt, hái lượm, có quan hệ trao đổi với cư dân đồng bằng ven biển. Ở phía bắc Bình Thuận cũ, các tộc người thường được nhắc tới là người K'Ho và người Raglai; thành phần dân tộc cụ thể ở từng thôn nên tra số liệu của cơ quan dân tộc địa phương.

Trong các thời kỳ chiến tranh, vùng rừng núi này là địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến, đời sống của đồng bào nhiều lần bị xáo trộn. Sau năm 1975, chính quyền tổ chức lại các điểm dân cư, vận động đồng bào định canh định cư, đồng thời đưa người Kinh từ nhiều nơi lên khai hoang vùng đất mới. Xã Đông Tiến là một trong những xã ra đời ở thời kỳ này, lấy chữ "Đông" của xã Đông Giang có trước để giữ sự gắn kết.

Đường lên vùng núi một thời là thử thách lớn. Mùa mưa, đường đất trơn, suối dâng, nhiều thôn bị chia cắt. Câu chuyện của các thầy cô giáo, cán bộ y tế đi bộ vào thôn bản vẫn được người địa phương kể lại như một phần ký ức chung.

Bốn xã cũ, hai xã mới

Bảng tóm tắt việc sắp xếp và đặc điểm từng xã cũ, giúp người đọc định vị khi gặp tên xã cũ trong tài liệu hay trên biển đường.

Xã cũĐặc điểm nổi bậtXã mới từ 7/2025
La Dạxã vùng cao xa nhất về phía tây bắc, giáp tỉnh Lâm Đồng cũ, có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đờiXã La Dạ
Đa Mivùng hồ thủy điện Hàm Thuận và Đa Mi, nhiều hộ tái định cưXã La Dạ
Đông Giangxã núi phía bắc, thượng nguồn các suối đổ về sông Cà TyXã Đông Giang
Đông Tiếnxã lập ở vùng kinh tế mới, đất đồi trồng cây lâu nămXã Đông Giang

Hai xã mới đều rộng, dân cư phân tán theo nhiều thôn cách xa nhau. Đây là đặc điểm chung của các xã vùng núi sau sắp xếp năm 2025: diện tích lớn để bù cho dân số thưa, đổi lại là khoảng cách từ thôn tới trụ sở xã dài hơn.

Hồ thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi đổi diện mạo vùng núi

Cuối thập niên 1990, công trình thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi được xây dựng trên sông La Ngà, gồm hai nhà máy nối tiếp nhau, hoàn thành vào khoảng đầu thập niên 2000. Công trình tạo nên hồ Hàm Thuận ở phía trên và hồ Đa Mi ở phía dưới, một vùng mặt nước rộng giữa rừng núi, nằm trên ranh giới giữa Bình Thuận cũ và Lâm Đồng cũ.

Với vùng cao Hàm Thuận Bắc, đây là thay đổi lớn nhất trong lịch sử. Một phần đất canh tác và nơi ở bị ngập, các hộ dân được bố trí tái định cư. Đường thi công nâng cấp đường vào vùng núi, điện lưới về sớm hơn. Hồ chứa điều tiết dòng chảy, tạo nguồn nước cho cả vùng hạ du. Mặt hồ, các đảo nhỏ, rừng thông quanh hồ về sau trở thành cảnh quan thu hút người đi cắm trại, câu cá, chụp ảnh.

Tên công trình mang cả hai chữ "Hàm Thuận" và "Đa Mi", và đó là một lý do tên Đa Mi được người ngoài biết đến rộng rãi. Sau năm 2025, xã Đa Mi không còn, nhưng hồ Đa Mi, thủy điện Đa Mi vẫn giữ tên. Các chi tiết kỹ thuật về công suất, dung tích hồ nên tham khảo tài liệu chính thức của đơn vị quản lý công trình; mục kinh tế và năng lượng của trang bàn về thủy điện như một ngành.

Tên La Dạ, Đa Mi, Đông Giang nói gì

Hai tên Đông Giang và Đông Tiến là tên Hán Việt rõ nghĩa: "giang" là sông, Đông Giang là sông phía đông; Đông Tiến là tiến về phía đông. Đây là kiểu tên đặt khi lập xã, chọn chữ có ý nghĩa tốt và dễ nhớ.

Hai tên La Dạ và Đa Mi thì khác. Chúng không theo khuôn Hán Việt và nhiều khả năng có gốc từ ngôn ngữ bản địa. Trong tiếng K'Ho và một số ngôn ngữ cùng nhóm ở cao nguyên phía nam, "đạ" là nước, sông, suối; đó là lý do vùng Lâm Đồng cũ có nhiều địa danh mở đầu bằng "Đạ" như Đạ Huoai, Đạ Tẻh. Người ta suy ra "Đa" trong Đa Mi và "Dạ" trong La Dạ có thể là cùng một từ, được ghi lại bằng cách viết khác.

Suy luận này hợp lý vì vùng Đa Mi, La Dạ đúng là vùng sông suối, nay là vùng hồ. Tuy vậy, nghĩa của phần còn lại, "Mi" và "La", trang chưa thấy tư liệu nào giải thích chắc chắn. Như với nhiều địa danh vùng núi, cách tốt nhất để hiểu là hỏi chính những người cao tuổi trong cộng đồng đồng bào, những người còn giữ tiếng nói và ký ức về tên đất.

Một điều nên biết khi đọc tài liệu cũ: cùng một tên vùng núi có thể được ghi theo nhiều cách, có dấu hoặc không dấu, viết liền hoặc tách, chữ D hoặc Đ, tuỳ người ghi và tuỳ thời kỳ. Khi tra cứu giấy tờ, bản đồ hay số liệu cũ về La Dạ, Đa Mi, nên thử các cách viết khác nhau để khỏi bỏ sót, và khi viết giấy tờ mới thì theo đúng cách viết trong văn bản hành chính hiện hành.

Sinh kế vùng cao đổi thay qua các thời kỳ

Trong ký ức của người cao tuổi, sinh kế vùng cao Hàm Thuận Bắc từng gắn với rẫy lúa, bắp, sắn trên sườn đồi, với rừng là nơi lấy gỗ, mây, măng, mật ong và săn bắt. Mỗi mùa rẫy bắt đầu bằng việc phát, đốt, chọc lỗ tra hạt, và kết thúc bằng mùa thu hoạch với những nghi lễ riêng của từng cộng đồng. Cách sống này phụ thuộc vào đất rừng rộng và dân cư thưa.

Từ sau năm 1975, cùng với chủ trương định canh định cư và các đợt khai hoang, vùng cao dần chuyển sang trồng cây lâu năm. Điều, cà phê, cao su ở một số nơi, rồi cây ăn trái như sầu riêng, bơ trong những năm gần đây, thay dần cho rẫy. Ruộng nước được khai ở những thung lũng có suối. Chăn nuôi bò, dê phát triển ở vùng đồi cỏ.

Thủy điện và hồ chứa mở thêm những nghề mới: đánh bắt cá trên hồ, dịch vụ cho khách đến cắm trại, chụp ảnh. Đồng thời, việc đất rừng thu hẹp và nhiều diện tích trở thành rừng phòng hộ, vùng bảo vệ công trình khiến cách sống dựa vào rừng của đồng bào phải thay đổi. Câu chuyện chuyển đổi sinh kế ở vùng cao vì thế vừa có cơ hội vừa có mất mát, và vẫn đang tiếp diễn.

Với người tìm hiểu lịch sử, đây là phần dễ bị quên nhất: những thay đổi diễn ra chậm, không có ngày tháng rõ ràng như các quyết định hành chính, nhưng lại làm đổi hẳn đời sống của nhiều thế hệ. Những cuộc trò chuyện với người già trong thôn là nguồn tư liệu quý mà sách vở chưa ghi hết.

Những điều người đến vùng cao nên biết

Tên cũ vẫn dùng hằng ngày. Người dân vẫn gọi Đa Mi, Đông Tiến khi chỉ đường, dù trên giấy tờ là xã La Dạ, xã Đông Giang. Khi hỏi đường, dùng tên cũ thường được trả lời nhanh hơn.

Khoảng cách lớn, đường núi. Từ thôn xa tới trụ sở xã có thể mất nhiều thời gian, nhất là mùa mưa. Khi cần làm giấy tờ, hỏi trước giờ làm việc và giấy tờ cần mang để khỏi đi lại nhiều lần.

Tôn trọng phong tục của đồng bào. Mỗi cộng đồng có tập quán, lễ hội, kiêng kỵ riêng. Khi vào thôn, nên hỏi trưởng thôn hoặc người lớn tuổi trước khi chụp ảnh, vào nhà hay tham dự lễ.

Rừng và hồ có quy định riêng. Nhiều diện tích là rừng phòng hộ hoặc vùng bảo vệ công trình thủy điện. Cắm trại, đốt lửa, câu cá, đi thuyền trên hồ cần tìm hiểu quy định và hỏi đơn vị quản lý trước.

Vùng cao trong tỉnh Lâm Đồng mới

Trước năm 2025, xã La Dạ và Đa Mi nằm ở rìa tỉnh Bình Thuận, giáp tỉnh Lâm Đồng cũ, và những mối liên hệ với Di Linh, Bảo Lộc dù rất gần về đường đi vẫn phải qua ranh tỉnh. Nay khi cả hai phía cùng thuộc tỉnh Lâm Đồng, những mối liên hệ đó trở nên tự nhiên hơn: người dân vùng cao có thể làm việc, buôn bán, học hành ở cả hai hướng mà không vướng ranh tỉnh.

Quốc lộ 28 nối vùng này với Phan Thiết ở phía nam và với Di Linh ở phía bắc, là trục chính của vùng cao. Nông sản của vùng như cà phê, điều, sầu riêng, cây ăn trái có thể đi về hai hướng tuỳ thị trường. Du lịch hồ và rừng có cơ hội gắn với tuyến du lịch Đà Lạt – biển Bình Thuận cũ trong cùng một tỉnh.

Dù vậy, những bài toán cũ của vùng cao vẫn còn đó: đường vào thôn xa, nước sinh hoạt mùa khô, trường học và trạm y tế cho các điểm dân cư phân tán, sinh kế bền vững cho đồng bào. Việc nhập tỉnh không tự giải quyết những bài toán ấy, nhưng mở ra khả năng nhìn vùng cao Hàm Thuận Bắc như một phần nối liền của cả vùng cao nguyên, chứ không còn là góc khuất ở rìa một tỉnh ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Xã Đa Mi nay thuộc xã nào?

Xã Đa Mi cũ nhập với xã La Dạ thành xã La Dạ thuộc tỉnh Lâm Đồng từ ngày 1/7/2025. Hồ Đa Mi và nhà máy thủy điện Đa Mi vẫn giữ tên cũ. Khi tìm đường, bạn vẫn có thể dùng tên Đa Mi trên bản đồ và khi hỏi người địa phương.

Đông Tiến có còn là xã không?

Không. Xã Đông Tiến cũ đã nhập với xã Đông Giang thành xã Đông Giang thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tên Đông Tiến vẫn có thể còn trong tên thôn, trường học hay cách gọi hằng ngày của người dân trong vùng.

Vùng cao Hàm Thuận Bắc có những dân tộc nào?

Bên cạnh người Kinh, vùng núi phía bắc Bình Thuận cũ có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời, trong đó thường được nhắc tới là người K'Ho và người Raglai. Thành phần cụ thể ở từng xã, từng thôn nên tham khảo số liệu của cơ quan làm công tác dân tộc địa phương.

Hồ Hàm Thuận và hồ Đa Mi khác nhau thế nào?

Đây là hai hồ của cùng một công trình thủy điện trên sông La Ngà. Hồ Hàm Thuận ở phía trên, phục vụ nhà máy thủy điện Hàm Thuận; hồ Đa Mi ở phía dưới, nhận nước sau nhà máy thứ nhất để chạy nhà máy Đa Mi. Thông số kỹ thuật cụ thể nên tra tài liệu của đơn vị quản lý.

Đi từ Phan Thiết lên La Dạ bằng đường nào?

Trục chính là quốc lộ 28 từ phía Phan Thiết đi lên vùng núi và nối sang Di Linh. Đường đèo, nhiều đoạn quanh co, mùa mưa có thể sạt lở. Trước khi đi nên hỏi tình trạng đường và xem dự báo thời tiết; mục đi lại của trang viết kỹ hơn về các tuyến đường.

Tên La Dạ có nghĩa là gì?

Hiện chưa có giải thích chắc chắn. Nhiều người cho rằng La Dạ có gốc từ ngôn ngữ bản địa, trong đó âm "Dạ" có thể liên quan tới từ "đạ" nghĩa là nước trong tiếng K'Ho. Đây là giả thuyết hợp lý nhưng cần được người am hiểu tiếng bản địa xác nhận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.