Đất ở vùng Hàm Thuận có thể chia thành ba nhóm chính theo bậc địa hình: đất cát (cát trắng, cát vàng, cát đỏ) ở dải ven biển phía Hàm Thuận Nam cũ; đất xám, nhiều cát, bạc màu trên các thềm đất cũ ở đồng bằng, nơi trồng phần lớn thanh long; và đất đỏ vàng trên đồi núi phía Hàm Thuận Bắc cũ. Dọc sông suối có những dải đất phù sa hẹp. Điểm chung của phần lớn đất ở đây là nhẹ, thoát nước nhanh, nghèo chất hữu cơ và giữ ẩm kém.
Những đặc tính ấy cộng với khí hậu ít mưa tạo nên bài toán quen thuộc của người Hàm Thuận: đất dễ làm, rễ cây ăn sâu, không úng, nhưng muốn cây tốt thì phải tưới và bón đều, mùa khô đất khô rất nhanh.
Bài này tả các loại đất theo góc nhìn của người sống và làm việc ở đây: nhận biết bằng mắt và tay, đất ảnh hưởng tới xây nhà, đào giếng, làm vườn thế nào. Kỹ thuật bón phân, trồng cây cụ thể nên hỏi cán bộ khuyến nông xã.
Đất cát ven biển: trắng, vàng và đỏ
Dọc bờ biển từ Thuận Quý về Tân Thành, đất chủ yếu là cát biển do sóng và gió bồi đắp qua thời gian dài. Cát gần biển thường màu trắng hoặc vàng nhạt, hạt rời, gần như không dính tay. Đi sâu vào trong một chút, trên các cồn cao, có những vùng cát ngả vàng đậm tới đỏ, kiểu cát đỏ mà Bình Thuận cũ nổi tiếng, màu do các hợp chất sắt bám quanh hạt cát qua quá trình phong hoá lâu dài.
Đất cát giữ nước rất kém: nước tưới thấm xuống gần như ngay lập tức, mặt cát khô lại sau vài giờ nắng. Chất dinh dưỡng cũng trôi theo nước nên đất nghèo. Bù lại, đất cát thoát nước tốt, không úng, dễ đào xới và ấm lên nhanh. Trên cát, các loài cây chịu hạn như phi lao, keo, xương rồng, dứa dại, cỏ bò lan phát triển tốt và có tác dụng giữ cát.
Một điểm cần biết ở vùng cát ven biển là nguồn nước ngầm. Dưới các cồn cát thường có túi nước ngọt nằm nông, nhưng càng gần biển, càng hút nhiều, nguy cơ nước bị lợ hay mặn càng cao. Đây là lý do những bàu nước và giếng ở vùng cát được người dân giữ gìn rất kỹ.
Đất xám trên thềm cũ: nền của vùng thanh long
Phần lớn đồng bằng Hàm Thuận, từ Hàm Kiệm, Hàm Minh, Hàm Thạnh ở phía nam tới Ma Lâm, Hàm Đức, Thuận Minh ở phía bắc, có đất xám nhiều cát hình thành trên phù sa cổ và các thềm đất cũ. Đất có màu xám nhạt tới xám vàng, cầm lên thấy lạo xạo, hơi dính hơn cát biển một chút nhưng vẫn rời. Mùa khô, mặt đất có thể bạc trắng và nóng hầm hập dưới nắng.
Loại đất này tơi xốp, thoát nước tốt, độ phì thấp và hơi chua. Nếu chỉ dựa vào độ màu tự nhiên, cây trồng sẽ nhanh chóng còi cọc; vì vậy người làm vườn ở đây quen với việc bổ sung phân chuồng, phân hữu cơ, phủ gốc bằng rơm, cỏ để tăng chất mùn và giữ ẩm. Việc này cần làm đều mỗi năm vì chất hữu cơ trong đất cát phân huỷ nhanh dưới nắng nóng.
Chính sự kết hợp giữa đất xám thoát nước, nắng nhiều và có nguồn nước tưới đã tạo điều kiện cho cây thanh long phát triển trên diện rộng ở Hàm Thuận. Cây thanh long chịu hạn tốt nhưng rất sợ úng, nên những vùng đất nhẹ này hợp với nó hơn đất thịt nặng. Chi tiết về cây trồng được viết riêng ở mục thanh long và nông sản của trang.
Đất đỏ vàng vùng đồi núi
Lên vùng đồi gò và núi phía Hàm Thuận Bắc cũ, đất chuyển sang màu đỏ vàng, nâu đỏ, hình thành từ phong hoá đá gốc như granite và các loại đá trầm tích, biến chất. Đất này dính hơn, giữ nước tốt hơn đất cát, nhưng trên sườn dốc thì tầng đất thường mỏng, lẫn sỏi sạn và đá vụn. Có những chỗ đá ong, kết von lộ ra trên mặt, nhất là ở vùng đồi bị xói mòn lâu năm.
Đất đồi núi chịu rủi ro lớn nhất là xói mòn. Khi rừng hoặc lớp phủ thực vật bị phát quang, những trận mưa lớn cuối mùa cuốn đi lớp đất mặt màu mỡ chỉ trong vài năm, để lại sỏi đá. Vì vậy ở vùng núi, cách canh tác giữ đất như trồng theo đường đồng mức, giữ thảm cỏ, trồng xen cây che phủ có ý nghĩa sống còn với độ màu lâu dài.
Ở vùng giáp rìa cao nguyên phía Đa Mi, đất có nơi tốt hơn, tầng dày hơn, thích hợp cây lâu năm. Nhưng địa hình chia cắt nên mỗi thửa đất lại một khác; người mua đất làm vườn ở đây nên đào thử một hố sâu để xem tầng đất thật thay vì chỉ nhìn mặt.
Đất phù sa ven sông và đất trũng
Dọc sông Cà Ty, các nhánh suối và một vài sông nhỏ ở Hàm Thuận Nam cũ, có những dải đất phù sa hẹp, màu nâu sẫm, mịn hơn và giữ nước tốt hơn đất xám xung quanh. Đây là nơi trước kia người dân làm ruộng lúa nước, trồng rau màu. Diện tích không lớn nhưng là đất tốt nhất về độ phì tự nhiên.
Bên cạnh đó là những vùng đất trũng, đọng nước theo mùa, có nơi bị phèn nhẹ hoặc ngập mặn gần cửa sông, cửa biển. Đất trũng mùa mưa ngập, mùa khô nứt nẻ; trồng cây trên cạn ở đây phải lên liếp, đắp mô cao để tránh úng.
Đất phù sa ven sông cũng thay đổi theo từng mùa lũ nhỏ: mùa mưa nước sông đục, mang theo đất từ thượng nguồn bồi lên bãi ven; mùa khô dòng chảy yếu, bãi bồi lộ ra và người dân tranh thủ trồng rau màu ngắn ngày. Kiểu canh tác bãi sông này đòi hỏi theo dõi sát mực nước vì một trận mưa lớn đầu nguồn có thể làm ngập bãi chỉ sau một đêm.
Nhiều vùng đất ven sông đang chịu áp lực từ cả hai phía: xây dựng khu dân cư lấn vào đất trũng, và khai thác cát, đất ven sông làm thay đổi dòng chảy. Với người định mua đất ở gần sông suối, việc tìm hiểu quy hoạch, hành lang bảo vệ nguồn nước và lịch sử ngập lụt của khu vực là bước không nên bỏ qua.
Nhận biết nhanh các loại đất khi đi xem đất
Vài dấu hiệu dễ nhận bằng mắt và tay. Đây chỉ là cách nhận biết sơ bộ; muốn biết chính xác thành phần và độ chua thì cần phân tích mẫu đất ở cơ sở có chức năng.
| Loại đất | Màu và cảm giác khi cầm | Ưu điểm | Điều cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Cát biển | Trắng, vàng nhạt; rời, không vo được | Thoát nước, không úng, dễ đào | Giữ nước kém, nghèo, nước ngầm dễ lợ gần biển |
| Cát đỏ | Vàng đậm tới đỏ; rời, bám màu nhẹ vào tay | Thoát nước tốt | Dễ bay khi khô và gió mạnh, rất nghèo |
| Đất xám | Xám nhạt; lạo xạo, hơi dính | Tơi xốp, dễ làm | Bạc màu, chua, cần bổ sung hữu cơ thường xuyên |
| Đỏ vàng đồi núi | Đỏ, nâu đỏ; dính, vo được viên | Giữ nước khá hơn | Xói mòn trên dốc, có chỗ tầng mỏng, sỏi đá |
| Phù sa ven sông | Nâu sẫm; mịn, dẻo khi ướt | Độ phì cao nhất | Dễ ngập theo mùa, có quy định hành lang sông |
Một mẹo người làm vườn hay dùng: bóp một nắm đất ẩm rồi mở tay ra. Đất cát rơi rời ngay, đất xám giữ được hình một lúc rồi vỡ, đất đỏ vàng và đất phù sa vo được thành viên. Cách này không thay được phân tích, nhưng đủ để hình dung đất giữ nước tốt hay kém.
Đất ảnh hưởng tới xây nhà và đào giếng thế nào
Nền cát chịu lực khá nhưng dễ lún lệch nếu không đầm. Nhà xây trên cát cần đầm nền kỹ, móng đặt đủ sâu và tránh để nước mưa xói vào chân móng. Ở vùng cát ven biển, gió mạnh và hơi muối cũng làm sắt thép, mái tôn mau gỉ hơn trong đất liền.
Đất đồi dốc cần tính thoát nước mưa. Nhà trên sườn đồi phải có rãnh dẫn nước quanh nhà và kè chân taluy nếu san gạt, nếu không mưa lớn sẽ xói mòn nền hoặc gây sạt nhỏ phía sau nhà.
Đất trũng phải tôn nền. Khu đất thấp hơn đường hoặc gần sông suối nên được tôn nền cao hơn mức nước ngập cao nhất mà hàng xóm lâu năm còn nhớ, đồng thời không lấp mất đường thoát nước chung của cả xóm.
Giếng ở vùng cát và vùng đồi khác nhau. Vùng cát thường có nước nông nhưng dễ lợ nếu gần biển; vùng đồi đá thường phải khoan sâu hơn và lượng nước không đều. Nước giếng dùng ăn uống nên được xét nghiệm chất lượng trước khi dùng lâu dài.
Giữ và cải tạo đất cát, đất xám: những cách người dân đang làm
Bổ sung chất hữu cơ đều đặn. Phân chuồng ủ hoai, phân hữu cơ vi sinh, xác bã thực vật là cách cơ bản để đất cát và đất xám giữ được nước và dinh dưỡng lâu hơn. Vì nắng nóng làm chất hữu cơ phân huỷ nhanh, việc này phải làm hằng năm chứ không làm một lần là đủ. Phân chuồng tươi chưa ủ có thể mang mầm bệnh và làm nóng rễ, nên ủ trước khi bón.
Phủ gốc và giữ thảm cỏ. Rơm, cỏ khô, lá cây phủ quanh gốc giúp che mặt đất khỏi nắng gắt và gió khô, giảm bốc hơi, giữ đất mát. Ở vườn trên đất dốc, giữ một thảm cỏ thấp giữa các hàng cây thay vì làm sạch cỏ trắng đất giúp hạn chế xói mòn khi mưa lớn.
Trồng cây chắn gió. Hàng rào cây xanh quanh vườn làm giảm sức gió mùa khô, bớt cát bay và giảm bốc hơi trong vườn. Ở vùng ven biển, đai rừng phi lao, keo phía ngoài là lớp bảo vệ quan trọng cho đồng ruộng phía trong.
Tưới đúng chỗ, đúng lúc. Trên đất cát, tưới tràn lãng phí phần lớn nước vì thấm sâu quá tầm rễ. Tưới nhỏ giọt, tưới phun quanh gốc, tưới vào sáng sớm hoặc chiều muộn giúp nước ở lại vùng rễ lâu hơn. Đầu tư ban đầu cao hơn nhưng tiết kiệm nước trong những năm hạn.
Hạn chế để đất trống lâu ngày. Đất trống phơi nắng gió suốt mùa khô sẽ mất lớp mặt nhanh nhất. Trồng cây che phủ, cây họ đậu ngắn ngày giữa các vụ hoặc giữa hàng cây lâu năm vừa giữ đất, vừa bổ sung đạm cho đất.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Bình Thuận cũ có cát màu đỏ?
Màu đỏ của cát là do các hợp chất sắt bám thành lớp mỏng quanh hạt cát qua quá trình phong hoá lâu dài trong điều kiện khô nóng. Cát càng ở trên cao, càng lâu năm thì thường càng đỏ đậm, còn cát mới bồi gần biển thường trắng hoặc vàng nhạt.
Đất ở Hàm Thuận có hợp trồng rau không?
Trồng được, nhưng đất cát và đất xám nghèo dinh dưỡng, giữ nước kém nên rau cần nhiều phân hữu cơ, tưới thường xuyên và che bớt nắng gắt mùa khô. Nhiều hộ trồng rau trong luống có bổ sung phân chuồng, xơ dừa hoặc trấu để cải thiện khả năng giữ ẩm.
Làm sao biết đất có bị chua không?
Cách chắc chắn là lấy mẫu đất gửi phân tích hoặc dùng bộ đo độ chua bán ở cửa hàng vật tư nông nghiệp. Đất xám bạc màu ở đồng bằng Hàm Thuận thường hơi chua; cán bộ khuyến nông có thể hướng dẫn cách lấy mẫu và cách cải tạo phù hợp.
Đất vùng cát có dễ bị nhiễm mặn không?
Đất và nước ngầm ở vùng cát gần biển có nguy cơ nhiễm mặn, nhất là khi khai thác nước ngầm quá mức trong mùa khô hoặc gần cửa sông. Ở sâu trong đất liền nguy cơ thấp hơn nhiều. Nước tưới bị lợ thường làm cây vàng lá, cháy mép lá.
Có nên mua đất đồi dốc để làm vườn ở vùng núi Hàm Thuận Bắc cũ?
Đây là quyết định cá nhân, nhưng trước khi mua nên xem tầng đất thật bằng cách đào thử, kiểm tra nguồn nước tưới mùa khô, độ dốc, đường vào mùa mưa và tình trạng pháp lý, quy hoạch đất rừng của thửa đất. Đất dốc canh tác lâu dài cần đầu tư giữ đất chống xói mòn.
Đất cát có xây nhà nhiều tầng được không?
Được, nhiều công trình lớn ven biển vẫn xây trên nền cát. Điều quan trọng là khảo sát địa chất và thiết kế móng phù hợp với tải trọng, do kỹ sư có chuyên môn thực hiện. Nhà nhiều tầng không nên tự làm móng theo kinh nghiệm truyền miệng.