Người Hàm Thuận là một cộng đồng nhiều lớp: người Kinh đến khai phá từ các thế kỷ trước, những đợt di cư từ miền Trung và miền Bắc trong thế kỷ XX, người lên vùng kinh tế mới sau năm 1975, cùng đồng bào dân tộc thiểu số như Raglai, K'Ho ở vùng núi phía bắc và phía tây. Phần đông sống bằng nông nghiệp, mà nghề chính mấy chục năm nay là trồng thanh long; dải ven biển Thuận Quý, Tân Thành, Kê Gà có thêm nếp làng chài.
Hai huyện cũ Hàm Thuận Bắc và Hàm Thuận Nam, nay là các xã, phường của tỉnh Lâm Đồng, ôm lấy Phan Thiết từ ba phía. Vì vậy người ở đây vừa có nếp nông thôn, vừa quen đi về thành phố: sáng chở hàng xuống chợ Phan Thiết, chiều về vườn thắp đèn. Bài này tả ai đang sống ở vùng đất này, họ nói và sống thế nào, và người mới đến nên hiểu gì để hoà nhập.
Các lớp cư dân: người đến trước, người đến sau
Vùng đất Bình Thuận xưa là địa bàn của người Chăm, về sau người Việt từ Thuận Quảng vào lập làng dọc các con sông, cửa biển và vùng đất bằng. Các làng người Kinh lâu đời ở Hàm Thuận thường tụ ở chỗ có nước: ven sông Cà Ty, sông Cái, các bàu, và dọc con đường cái quan mà về sau thành quốc lộ 1. Dấu vết của lớp cư dân này là những ngôi đình, ngôi chùa làng, những dòng họ có nhà thờ họ và gia phả ghi gốc từ các tỉnh miền Trung.
Lớp thứ hai đến trong thế kỷ XX, đặc biệt những thập niên giữa thế kỷ, khi người từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một số tỉnh phía Bắc vào lập nghiệp, khai hoang vùng đồi. Lớp thứ ba là sau năm 1975, khi nhiều gia đình được đưa vào các vùng kinh tế mới, mở đất ở những nơi trước đó còn thưa người. Nhiều thôn ở Hàm Thuận Bắc và vùng đồi Hàm Thuận Nam hình thành theo cách này, nên trong cùng một thôn có thể nghe cả giọng Quảng, giọng Bình Định lẫn giọng Bắc.
Lớp gần đây nhất là người đến làm thuê theo mùa vụ thanh long, người làm ở các công trình điện mặt trời, điện gió, khu du lịch ven biển, và cả người từ TP.HCM ra mua đất vườn. Họ không phải ai cũng ở lại, nhưng làm cho chợ quê, quán ăn, phòng trọ ở các xã như Hàm Thuận, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm đông đúc hơn trước.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi
Phía bắc vùng Hàm Thuận là đồi núi chuyển dần lên cao nguyên, quanh các xã La Dạ, Đông Giang cũ và vùng hồ Đa Mi. Đây là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó đông là người K'Ho và người Raglai, xen với các hộ người Kinh. Phía Hàm Thuận Nam, vùng núi Hàm Cần, Mỹ Thạnh cũ cũng có cộng đồng Raglai. Tỷ lệ cụ thể từng xã thay đổi theo thời gian và nên tra số liệu của chính quyền địa phương; điều chắc chắn là văn hoá các cộng đồng này hiện diện rõ trong đời sống vùng núi.
Cả người K'Ho và người Raglai đều có truyền thống tính dòng họ theo bên mẹ, có nhạc cụ, lễ thức và luật tục riêng. Đời sống hiện nay đã đổi nhiều: nhà sàn ít dần, nhiều gia đình trồng điều, mì, bắp, thanh long và đi làm thuê, con cái học trường trong xã. Một bài riêng trên trang tả kỹ hơn về văn hoá Raglai, K'Ho ở Hàm Thuận.
Trong vùng Hàm Thuận, cộng đồng Chăm không đông như ở Bắc Bình hay Tuy Phong, nhưng dấu ấn Chăm vẫn thấm vào nhiều địa danh và tín ngưỡng ven biển của cả vùng Bình Thuận cũ, như việc thờ Bà Chúa Ngọc ở một số nơi. Người đọc gặp những cái tên nghe lạ tai như Tà Cú, La Dạ, Ma Lâm thì nên biết đó là lớp địa danh có từ lâu, không phải tên đặt mới.
Giọng nói và cách xưng hô
Giọng Hàm Thuận thuộc nhóm giọng Nam Trung Bộ ven biển, gần giọng Phan Thiết: nhẹ hơn giọng Quảng, có pha âm Nam Bộ ở một số từ. Nhưng vì dân cư nhiều lớp, không có một giọng thống nhất. Ở những thôn lập sau năm 1975, ông bà còn giữ giọng quê gốc, thế hệ con cháu thì nói giọng pha, gần với giọng phát thanh và giọng TP.HCM hơn.
Cách xưng hô ở nông thôn Hàm Thuận khá giống các vùng Nam Bộ: gọi theo thứ trong nhà (anh Hai, chị Ba, cô Tư), người lớn tuổi được gọi là chú, cô, bác hay ông, bà tuỳ tuổi. Người mới đến chỉ cần hỏi tên và thứ, gọi theo đó là được lòng. Ở làng biển, người ta hay gọi nhau theo tên ghe, tên vạn, hoặc tên con cả kèm chữ "ba", "má" phía trước.
Một điều người từ thành phố hay bất ngờ là người Hàm Thuận nói thẳng, ít vòng vo trong mua bán: thương lái và nhà vườn trả giá nhanh, chốt bằng lời. Sự thẳng thắn này đi kèm một nếp giữ chữ tín khá chặt, ai đã hứa cắt hàng ngày nào mà lỡ hẹn thì lần sau khó làm ăn tiếp.
Nếp sống của vùng nông thôn ôm quanh thành phố
Sống theo đèn thanh long. Nhịp sinh hoạt của nhiều gia đình đi theo lịch chong đèn: những tháng thắp đèn cho cây ra trái nghịch vụ, người ta thức khuya kiểm tra điện, sáng sớm ra vườn. Mùa thu hoạch thì cả nhà, cả hàng xóm đổi công cắt trái, nên đám tiệc thường tránh trùng những ngày cao điểm.
Gần Phan Thiết mà vẫn nếp làng. Phường Hàm Thắng, xã Hàm Thuận Bắc, xã Hàm Liêm cũ chỉ cách trung tâm Phan Thiết một đoạn đường ngắn, nhiều người đi làm ở thành phố. Nhưng trong thôn vẫn giữ đám giỗ cả họ, lễ cúng đình, chuyện hàng xóm sang phụ đám không cần mời.
Chợ quê là trung tâm tin tức. Chợ Ma Lâm, chợ Phú Long, chợ ở thị trấn Thuận Nam cũ, chợ Mương Mán và các chợ xã là nơi người ta gặp nhau buổi sáng, nghe tin giá thanh long, tin đám tiệc, tin mưa nắng. Người mới đến muốn biết chuyện làng nên đi chợ sớm vài lần.
Làng biển có nhịp riêng. Ở Thuận Quý, Tân Thành, Kê Gà, ngày bắt đầu từ lúc ghe vào bờ. Đàn ông đi biển, phụ nữ lo phân loại, buôn bán cá, phơi khô. Lịch con nước, mùa gió chướng, mùa biển êm quyết định nhịp sống chứ không phải ngày trong tuần.
Tôn trọng người già. Ở cả nông thôn lẫn làng biển, ý kiến của ông bà, của các vị cao niên trong làng vẫn được nghe trong việc họ, việc đình. Các lễ lớn ở đình đều có phần dành cho bậc cao niên.
Người Hàm Thuận đi xa và quay về
Như nhiều vùng nông thôn miền Trung, Hàm Thuận có nhiều người trẻ đi học, đi làm ở TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai cũ. Họ về quê dịp Tết và dịp giỗ lớn của gia đình. Quốc lộ 1, cao tốc Bắc – Nam và tàu hoả qua ga Mương Mán là những con đường quen của người đi xa. Một phần quay về khi thanh long được giá, mở vựa, mở cơ sở đóng gói, hoặc làm du lịch ven biển.
Người quê Hàm Thuận ở xa hay hỏi nhau một câu sau sáp nhập: quê mình giờ ghi thế nào. Câu trả lời ngắn là tên tỉnh đổi thành Lâm Đồng, tên huyện không còn, tên xã nhiều nơi đổi. Nhưng trong cách tự giới thiệu, người ta vẫn nói "dân Hàm Thuận Bắc", "dân Ma Lâm", "dân Thuận Nam", và cái tên ấy còn sống lâu trong đời thường.
Các hội đồng hương ở thành phố lớn thường gắn với từng xã hay từng họ tộc hơn là cả vùng. Dịp Tết, nhiều hội tổ chức gặp mặt, quyên góp sửa đình, làm đường thôn hoặc giúp học sinh nghèo ở quê — một sợi dây giữ người đi xa với làng.
Đời sống tinh thần: đình làng, chùa, nhà thờ họ
Mỗi làng người Kinh lâu đời ở Hàm Thuận thường có một ngôi đình thờ Thành hoàng và các bậc tiền hiền, hậu hiền — những người có công lập làng, mở đất. Đình là nơi họp làng ngày trước, nơi tổ chức lễ Kỳ yên hằng năm. Bên cạnh đình là chùa làng, miếu Bà, miếu xóm nhỏ ở đầu đường. Ở các thôn lập sau năm 1975, đình thường không có, thay vào đó là nhà văn hoá thôn và một vài miếu nhỏ do dân tự dựng.
Nhà thờ họ là thiết chế quan trọng không kém. Những dòng họ lớn đến sớm có nhà thờ riêng, giữ gia phả, tổ chức giỗ tổ mỗi năm một lần, con cháu ở xa về đông đủ. Ngày giỗ tổ của một họ lớn có khi đông hơn một đám cưới. Bên cạnh đó, vùng Hàm Thuận cũng có các họ đạo Công giáo, các cơ sở Tin Lành, Cao Đài ở một số xã, phản ánh sự đa dạng của những đợt người đến lập nghiệp.
Người mới đến không cần theo tín ngưỡng nào, nhưng nên biết lịch lễ chính của làng mình ở: hôm đó đường làng đông, có thể có rạp dựng ra đường, và hàng xóm sẽ bận. Hiểu điều đó giúp tránh những va chạm không đáng có, như hẹn thợ hay hẹn giao hàng đúng ngày cả xóm lo việc đình.
Người mới đến nên để ý gì
Người chuyển về sống, mở cơ sở làm ăn hay đến làm việc dài ngày ở Hàm Thuận thường hoà nhập nhanh nếu để ý vài điều nhỏ:
- Chào hỏi hàng xóm sớm, nhất là nhà bên cạnh và trưởng thôn; ở nông thôn, người ta biết nhau qua những lần gặp như thế hơn là qua giấy tờ.
- Có đám giỗ, đám cưới, đám tang trong xóm thì sang thăm hoặc phụ một tay; không cần quà lớn, sự có mặt mới là điều được nhớ.
- Tôn trọng giờ giấc vườn thanh long: đừng mở nhạc to khuya trong mùa chong đèn, đừng để vật nuôi phá vườn nhà bên.
- Đi đình, chùa, lăng Ông thì ăn mặc kín đáo, hỏi người trông coi trước khi chụp ảnh bên trong.
- Dùng nước tiết kiệm trong mùa khô, nhất là ở những thôn còn dùng giếng hoặc nước từ hồ chứa; thiếu nước là chuyện cả làng cùng lo.
- Hỏi chuyện giá đất, giá thanh long thì nghe nhiều người, đừng tin một nguồn — mỗi thôn, mỗi mùa mỗi khác.
Các mục khác của trang tả kỹ phần lễ hội, đình chùa, làng biển và đời sống người làm thanh long. Đọc đủ những bài ấy, người mới đến hiểu được vì sao lịch sinh hoạt ở đây lại xoay quanh mùa đèn và con nước.
Câu hỏi thường gặp
Người Hàm Thuận chủ yếu là dân tộc nào?
Phần đông là người Kinh, gồm nhiều lớp di cư từ miền Trung, miền Bắc qua các thời kỳ. Vùng núi phía bắc và phía tây có đồng bào dân tộc thiểu số, đông là K'Ho và Raglai. Tỷ lệ từng xã nên tra số liệu chính thức của địa phương vì thay đổi theo thời gian.
Giọng nói ở Hàm Thuận có khó nghe không?
Không khó. Giọng gần giọng Phan Thiết, thuộc nhóm Nam Trung Bộ ven biển, nhẹ hơn giọng Quảng. Ở các thôn kinh tế mới, người lớn tuổi còn giữ giọng quê gốc, nhưng người trẻ nói giọng pha gần giọng phổ thông nên người nơi khác nghe được ngay.
Người Hàm Thuận làm nghề gì là chính?
Nông nghiệp vẫn là chính, nổi bật nhất là trồng thanh long cùng các nghề quanh nó như thu mua, đóng gói, vận chuyển. Ven biển Thuận Quý, Tân Thành có nghề đánh bắt và dịch vụ du lịch. Một phần lao động làm ở Phan Thiết hoặc đi làm ăn xa.
Sau sáp nhập, người Hàm Thuận còn gọi quê mình là Hàm Thuận không?
Còn. Tên huyện không còn trên giấy tờ hành chính, nhưng người ta vẫn tự giới thiệu là dân Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam hay theo tên thị trấn cũ như Ma Lâm, Thuận Nam. Ba xã mới cũng mang lại tên Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam.
Người từ thành phố về Hàm Thuận sống có dễ hoà nhập không?
Khá dễ nếu chịu chào hỏi, tham gia việc chung của xóm và tôn trọng nhịp làm vườn. Người địa phương quen có người ngoài đến làm thuê, mua đất, mở cơ sở, nên không khép kín. Điều làm mất lòng nhất thường là coi nhẹ chuyện nước mùa khô và tiếng ồn ban đêm.
Ở Hàm Thuận có cộng đồng người Chăm không?
Vùng Bình Thuận cũ có cộng đồng Chăm lớn, nhưng tập trung chủ yếu ở Bắc Bình và Tuy Phong. Trong vùng Hàm Thuận, dấu ấn Chăm thể hiện nhiều hơn qua địa danh, qua tín ngưỡng ven biển và lịch sử vùng đất hơn là qua những làng Chăm đông dân.