Thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi là cụm hai nhà máy nối tiếp nhau trên sông La Ngà, ở vùng núi phía bắc Hàm Thuận Bắc cũ, nay thuộc xã La Dạ, tỉnh Lâm Đồng. Nhà máy Hàm Thuận ở bậc trên có công suất khoảng 300 MW, nhà máy Đa Mi ở bậc dưới khoảng 175 MW, tổng cộng khoảng 475 MW. Công trình xây dựng bằng vốn vay ưu đãi của Nhật Bản và hoàn thành vào đầu những năm 2000.
Đây là công trình năng lượng lớn nhất trên đất Hàm Thuận và là một nguồn điện quan trọng của lưới điện miền Nam. Nước sau khi chạy máy trả lại sông La Ngà, chảy tiếp về sông Đồng Nai và hồ Trị An, nên cụm nhà máy này còn ảnh hưởng tới nguồn nước của cả vùng hạ du rộng lớn.
Bài giải thích cụm thủy điện vận hành thế nào theo kiểu bậc thang, vì sao nó quan trọng với hệ thống điện, nó mang lại gì cho địa phương, và người sống ven sông cần biết gì về xả lũ. Cảnh quan hồ và chuyện đi chơi hồ được viết ở mục đất đai khí hậu và mục điểm đến.
Vì sao sông La Ngà ở Hàm Thuận hợp để làm thủy điện
Sông La Ngà bắt nguồn từ vùng cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc, chảy về phía nam qua vùng núi phía bắc Hàm Thuận rồi qua Tánh Linh, Đức Linh trước khi đổ vào sông Đồng Nai. Đoạn sông từ rìa cao nguyên xuống vùng đồi Hàm Thuận có độ dốc lớn: mực nước giảm nhanh trên một quãng ngắn. Thủy điện về bản chất là biến độ chênh cao của nước thành điện, nên chỗ nào vừa có lưu lượng vừa có độ chênh lớn là chỗ đáng xây.
Thêm vào đó, địa hình thung lũng cho phép đắp đập tạo hồ chứa lớn ở phía trên, tích nước mùa mưa để chạy máy mùa khô. Hồ Hàm Thuận ở bậc trên là hồ điều tiết chính; hồ Đa Mi nhỏ hơn ở bậc dưới, nhận nước sau nhà máy Hàm Thuận để chạy tiếp nhà máy Đa Mi. Hai nhà máy dùng chung một dòng nước hai lần, đó là nghĩa của chữ bậc thang.
Công trình được chuẩn bị từ những năm 1990 và xây dựng bằng nguồn vốn vay ưu đãi của Nhật Bản, là một trong những dự án điện lớn dùng vốn hỗ trợ phát triển chính thức ở miền Nam thời kỳ đó. Việc có hai nhà máy chứ không phải một xuất phát từ tính toán kỹ thuật: chia độ chênh cao thành hai bậc giúp tận dụng địa hình và bố trí hồ chứa hợp lý hơn.
Vùng đặt công trình vốn là rừng núi thưa dân, có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở La Dạ, Đa Mi. Việc xây dựng kéo theo đường vào, lưới điện, khu ở cho người vận hành, và làm thay đổi một phần đời sống các thôn quanh hồ.
Hai bậc của cụm thủy điện
Thông số dưới đây là các con số được công bố rộng rãi, làm tròn và ghi "khoảng"; số chính xác theo từng tổ máy, cột nước, dung tích hồ nên xem tài liệu của đơn vị vận hành.
| Hạng mục | Nhà máy Hàm Thuận (bậc trên) | Nhà máy Đa Mi (bậc dưới) |
|---|---|---|
| Công suất lắp đặt | Khoảng 300 MW | Khoảng 175 MW |
| Hồ chứa | Hồ Hàm Thuận, hồ điều tiết chính | Hồ Đa Mi, nhận nước sau nhà máy Hàm Thuận |
| Vai trò | Tích nước mùa mưa, điều tiết cho cả cụm | Tận dụng tiếp phần cột nước còn lại |
| Nước sau nhà máy | Chảy xuống hồ Đa Mi | Trả về sông La Ngà, về hạ du |
Cộng hai bậc lại, cụm Hàm Thuận – Đa Mi có công suất khoảng 475 MW, thuộc nhóm nhà máy thủy điện lớn ở miền Nam. Để hình dung, công suất này lớn gấp nhiều lần một trang trại điện mặt trời loại phổ biến vài chục MW, và quan trọng hơn là nó có thể chạy hoặc dừng theo lệnh điều độ trong thời gian ngắn.
Vai trò của Hàm Thuận – Đa Mi với hệ thống điện
Nguồn điện điều chỉnh nhanh. Nhà máy thủy điện có hồ chứa có thể tăng giảm công suất nhanh hơn nhiều so với nhiệt điện than. Khi phụ tải tăng vọt vào chiều tối hay khi một nguồn khác sự cố, điều độ hệ thống có thể huy động thủy điện trong thời gian ngắn.
Bù cho điện mặt trời và điện gió. Bình Thuận cũ và Ninh Thuận có rất nhiều điện mặt trời, điện gió, vốn lên xuống theo nắng, gió. Thủy điện có hồ chứa ở gần là nguồn bù tự nhiên: trưa nắng nhiều điện mặt trời thì giữ nước lại, tối không còn nắng thì chạy máy.
Tích nước cho mùa khô. Hồ chứa giữ nước mùa mưa để phát điện mùa khô, khi các sông khác cạn. Việc tích, xả nước theo quy trình vận hành liên hồ trên lưu vực sông Đồng Nai được cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Góp phần cắt lũ. Trong mùa mưa, hồ có dung tích phòng lũ theo quy trình giúp giảm đỉnh lũ xuống hạ du, dù khả năng này có giới hạn khi mưa quá lớn kéo dài.
Cụm thủy điện mang lại gì và lấy đi gì của địa phương
Về mặt mang lại, nhà máy là nguồn thu ngân sách đáng kể qua thuế, phí, và tiền dịch vụ môi trường rừng mà thủy điện phải trả để bảo vệ rừng đầu nguồn. Tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả lại cho các hộ, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng, trong đó có đồng bào vùng núi. Đường vào nhà máy cũng giúp các thôn vùng cao đi lại dễ hơn trước, điện lưới về sớm hơn.
Mặt hồ rộng mở ra những sinh kế mới: nuôi cá lồng, đánh bắt cá trên hồ, dịch vụ du lịch sinh thái nhỏ. Khí hậu quanh hồ dịu hơn, cảnh quan được nhiều người tìm đến chụp ảnh, cắm trại. Những hoạt động này phải tuân theo quy định quản lý vùng lòng hồ và an toàn đập.
Về phía lấy đi, khi tích nước, một phần đất rừng và đất canh tác bị ngập, một số hộ phải di dời và tái định cư. Đoạn sông ngay sau đập có lúc ít nước hơn tự nhiên, ảnh hưởng tới cá và người dùng nước ven sông. Đây là những đánh đổi chung của mọi công trình thủy điện lớn, và cách bù đắp, hỗ trợ cụ thể được quy định trong các chính sách tái định cư, chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Người ở hạ du cần biết gì về xả lũ
Mỗi khi mưa lớn, thông tin "thủy điện xả lũ" dễ gây hoang mang. Xả lũ thực chất là xả bớt nước qua đập tràn khi hồ đã gần mực nước cho phép, để bảo vệ an toàn đập; việc này phải theo quy trình và phải thông báo trước. Vài điểm người dân ven sông La Ngà và hạ du nên nắm:
- Xả lũ được làm theo quy trình vận hành đã phê duyệt, có lệnh của cơ quan có thẩm quyền và phải thông báo trước cho chính quyền, người dân vùng hạ du.
- Khi nghe kẻng, còi báo động hoặc thông báo của xã, không đi qua tràn, không đánh bắt cá, không chăn thả gia súc ở lòng sông, bãi bồi.
- Nước sau đập có thể lên nhanh hơn dự kiến ở những đoạn sông hẹp; không đứng gần mép nước để xem.
- Theo dõi thông báo từ chính quyền xã và các kênh thông tin chính thức, không dựa vào tin đồn trên mạng.
- Hộ có lồng bè, ghe thuyền trên sông, hồ nên chằng buộc, di chuyển về nơi an toàn khi có cảnh báo mưa lớn kéo dài.
Không có công trình nào loại bỏ hoàn toàn rủi ro lũ. Hồ chứa giúp giảm đỉnh lũ trong những trận mưa vừa, nhưng khi mưa cực lớn, việc xả là bắt buộc để giữ đập. Chuẩn bị của mỗi hộ ven sông vẫn là lớp bảo vệ quan trọng.
Thủy điện trong bức tranh năng lượng mới của Hàm Thuận
Khi xây dựng, cụm Hàm Thuận – Đa Mi là nguồn điện lớn gần như duy nhất của vùng. Hai thập kỷ sau, xung quanh nó có thêm hàng loạt trang trại điện mặt trời, điện gió ở Bình Thuận cũ và Ninh Thuận cũ. Vai trò của thủy điện vì thế dịch chuyển: từ nguồn cung sản lượng chính sang nguồn linh hoạt, giữ ổn định cho hệ thống nhiều năng lượng tái tạo.
Ở Việt Nam đã có những bàn thảo và nghiên cứu về việc mở rộng, nâng công suất một số thủy điện hiện hữu hoặc xây thủy điện tích năng để bù cho điện mặt trời, điện gió; quy hoạch điện quốc gia có nhắc tới thủy điện tích năng ở các tỉnh Nam Trung Bộ. Những dự án như vậy, nếu có, cần thời gian dài để nghiên cứu và phê duyệt; trang này không nêu dự án nào cụ thể cho Hàm Thuận khi chưa có thông tin chính thức.
Với người dân Hàm Thuận, điều cụ thể hơn là cụm thủy điện vẫn tiếp tục là nguồn thu, nguồn việc làm gián tiếp và là cái mốc địa lý của vùng núi phía bắc: hỏi đường lên La Dạ, Đa Mi, người ta vẫn chỉ "đi hướng thủy điện".
Một năm vận hành: mùa mưa tích nước, mùa khô chạy máy
Nhịp vận hành của cụm Hàm Thuận – Đa Mi đi theo mùa của vùng nam Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Mùa mưa, thường từ khoảng tháng 5 tới tháng 10 hoặc 11, nước về hồ nhiều; nhà máy vừa phát điện vừa tích nước dần lên, đồng thời phải giữ một phần dung tích để đón lũ theo quy trình. Cuối mùa mưa là lúc hồ được đưa lên gần mực nước dâng bình thường để có nước dùng cho cả mùa khô.
Mùa khô kéo dài nhiều tháng, nước về hồ giảm mạnh. Lúc này nước tích trong hồ được dùng dè sẻn theo kế hoạch: nhà máy không chạy liên tục hết công suất mà thường được huy động vào những giờ hệ thống cần nhất, như chiều tối khi điện mặt trời tắt mà nhu cầu dùng điện còn cao. Cuối mùa khô, mực nước hồ hạ thấp, có năm khô hạn nặng thì sản lượng cả năm giảm rõ.
Trong một ngày, công suất nhà máy do trung tâm điều độ hệ thống điện quyết định theo nhu cầu toàn lưới chứ không do nhà máy tự chọn. Một tổ máy thủy điện có thể khởi động và hoà lưới trong vài phút, nhanh hơn nhiều so với nhà máy nhiệt điện, nên thủy điện thường được giao vai trò đỡ những lúc phụ tải thay đổi nhanh. Đó là lý do người đi ngang khu nhà máy có lúc thấy nước sau nhà máy chảy mạnh, có lúc gần như lặng: nhà máy đang chạy hay đang dừng theo lệnh điều độ.
Câu hỏi thường gặp
Thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi nằm ở đâu?
Cụm công trình nằm ở vùng núi phía bắc huyện Hàm Thuận Bắc cũ, trên sông La Ngà, quanh khu vực các xã La Dạ và Đa Mi cũ, nay thuộc xã La Dạ, tỉnh Lâm Đồng. Hồ Hàm Thuận ở bậc trên trải dài về phía giáp vùng cao nguyên Lâm Đồng cũ. Đường lên chủ yếu theo quốc lộ 28 từ phía Phan Thiết, Ma Lâm.
Tổng công suất thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi là bao nhiêu?
Theo các số liệu được công bố rộng rãi, nhà máy Hàm Thuận có công suất khoảng 300 MW và nhà máy Đa Mi khoảng 175 MW, tổng cộng khoảng 475 MW. Sản lượng điện mỗi năm thay đổi theo lượng nước về, năm mưa nhiều thì phát được nhiều hơn năm khô hạn.
Thủy điện bậc thang là gì?
Thủy điện bậc thang là nhiều nhà máy đặt nối tiếp trên cùng một dòng sông, nước chạy qua nhà máy bậc trên rồi tiếp tục chạy nhà máy bậc dưới. Cách này tận dụng hết độ chênh cao của đoạn sông. Ở đây, nước qua nhà máy Hàm Thuận xuống hồ Đa Mi rồi chạy nhà máy Đa Mi trước khi trả về sông La Ngà.
Có được câu cá, đi thuyền trên hồ thủy điện không?
Lòng hồ thủy điện có vùng bảo vệ đập và vùng hạn chế hoạt động theo quy định. Việc đánh bắt, nuôi cá lồng, chạy thuyền phải theo quy định quản lý lòng hồ của chính quyền và đơn vị vận hành. Trước khi đi nên hỏi chính quyền xã, không tự ý vào khu vực gần đập, cửa nhận nước, đập tràn.
Nước từ thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi có dùng để tưới cho Hàm Thuận không?
Nước sau khi chạy máy trả về sông La Ngà và chảy về phía Tánh Linh, Đức Linh, sông Đồng Nai. Vùng đồng bằng Hàm Thuận chủ yếu dùng nước từ hồ sông Quao và các hồ chứa thủy lợi khác. Đã có những phương án chuyển nước được bàn thảo; người dân nên theo dõi thông tin chính thức về các công trình thủy lợi.
Khi thủy điện xả lũ, người dân được báo trước như thế nào?
Theo quy định, trước khi xả lũ đơn vị vận hành phải thông báo cho chính quyền và các cơ quan liên quan ở hạ du, chính quyền xã thông báo tới người dân qua loa, kẻng, tin nhắn hoặc cán bộ thôn. Người dân ven sông nên chủ động theo dõi thông báo của xã khi có mưa lớn kéo dài.